Xóa mù chữ trong giai đoạn mới: Không để ai bị bỏ lại phía sau

calendar-icon 08/12/25 14:23
Tác giả: Minh Phong

Theo Giáo dục thời đại - Xóa mù chữ không chỉ kế thừa truyền thống “diệt giặc dốt”, mà còn là yêu cầu để đảm bảo cơ hội phát triển công bằng trong bối cảnh hội nhập.

Các đơn vị cần tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện công tác xóa mù chữ. Ảnh: Mộc Trà.

Xóa mù chữ – nền tảng của phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Phân tích bối cảnh, thách thức và định hướng chiến lược để nâng cao chất lượng công tác xóa mù chữ (XMC) giai đoạn 2025–2030, đặc biệt tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi; ông Nguyễn Xuân Thủy – Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên (Bộ GD&ĐT) – cho hay, công tác XMC hiện nay không chỉ là nhiệm vụ kế thừa truyền thống “diệt giặc dốt”, mà còn là yêu cầu sống còn để đảm bảo cơ hội phát triển công bằng trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số.

Cách đây 80 năm, ngay sau ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, với 95% dân số mù chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người coi công tác XMC cấp bách như chống giặc đói, giặc ngoại xâm.

Sự ra đời của Nha Bình dân học vụ (8/9/1945) đã mở đầu phong trào xã hội sâu rộng: “Người biết chữ dạy người không biết chữ”, “Chồng bảo vợ, cha bảo con, anh bảo em”. Nhờ đó, Việt Nam được UNESCO ghi nhận là quốc gia có những nỗ lực XMC nổi bật. Đến năm 2000, nước ta hoàn thành chuẩn quốc gia về XMC và phổ cập giáo dục tiểu học.

Tuy nhiên, bước sang giai đoạn mới, việc XMC xuất hiện những thách thức khác: tỷ lệ mù chữ và tái mù tập trung chủ yếu ở những vùng “lõi khó khăn” – miền núi, biên giới, hải đảo, nơi điều kiện kinh tế, địa lý và rào cản ngôn ngữ khiến người dân khó tiếp cận giáo dục.

Ông Thủy cho rằng, khái niệm biết chữ ngày nay không chỉ dừng lại ở đọc – viết. Trong thời đại số, người dân cần có năng lực tiếp nhận thông tin, sử dụng công nghệ phục vụ đời sống và sản xuất. Xóa mù chữ chức năng trở thành yêu cầu tất yếu.

Đây cũng là nền tảng quan trọng để triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là Chương trình 1719 về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS.

Ông Nguyễn Xuân Thủy – Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên (Bộ GD&ĐT).

Khung chính sách và định hướng của Đảng, Nhà nước

XMC luôn được xác định là nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Thế giới tiến bộ không ngừng, ai không học là lùi”, và “Học suốt đời” là quyền lợi – nghĩa vụ của mỗi người dân.

Tư tưởng đó được thể chế hóa trong nhiều văn bản quan trọng như: Nghị quyết 29-NQ/TW (2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, ưu tiên đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số; Chỉ thị 29-CT/TW (2024) về phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc, XMC cho người lớn.

Bộ Chính trị nhấn mạnh, chú trọng trang bị kiến thức và kỹ năng thiết yếu cho người mới biết chữ, duy trì tính bền vững, chú trọng xóa mù chữ chức năng.\

Luật Giáo dục 2019, Nghị định 20/2014/NĐ-CP quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong XMC và giáo dục tiếp tục sau biết chữ. Các chính sách trong Chương trình mục tiêu quốc gia 1719, trong đó Tiểu dự án 1 – Dự án 5 dành nguồn lực trực tiếp cho XMC vùng đồng bào DTTS. Cam kết của Việt Nam đối với SDG4 – đảm bảo giáo dục chất lượng và học tập suốt đời cho mọi người.

Số liệu thống kê hiện nay cho thấy, tỷ lệ biết chữ của nước ta ở mức cao:

Độ tuổi 15–35: 99,39% đạt chuẩn mức độ 1; 98,97% mức độ 2.

Độ tuổi 15–60: 99,10% đạt chuẩn mức độ 1; 97,72% mức độ 2.

Toàn quốc có 34/34 tỉnh đạt chuẩn XMC mức độ 1 và 26/34 tỉnh đạt chuẩn mức độ 2.

Tuy vậy, những con số này chưa phản ánh hết thực trạng, bởi tỷ lệ mù chữ vẫn tập trung cục bộ tại các thôn, bản đặc biệt khó khăn. Mặt khác, nguy cơ tái mù chữ rất cao nếu người dân không được học tiếp hoặc tham gia hoạt động sản xuất – sinh kế gắn với tri thức mới.

Lớp bình dân học vụ trong phong trào xóa nạn mù chữ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ảnh :TTXVN.

Hệ thống giải pháp cần được cấu trúc theo hai cấp

Ông Thủy nhấn mạnh, XMC không phải nhiệm vụ một lần. Người dân chỉ giữ được chữ khi chữ gắn với cuộc sống. Theo ông, hệ thống giải pháp cần được cấu trúc theo hai cấp: cấp tỉnh và cấp xã – nơi trực tiếp bám dân, bám địa bàn.

Thứ nhất, tuyên truyền và nâng cao nhận thức. Đối với cấp tỉnh, ban hành chỉ thị chuyên đề, đưa chỉ tiêu XMC vào tiêu chí thi đua; phối hợp đài tỉnh xây dựng chuyên mục tuyên truyền bằng tiếng phổ thông và tiếng dân tộc.

Đối với cấp xã, phát huy vai trò già làng, trưởng bản “đi từng nhà”; tuyên truyền qua loa phát thanh, họp thôn bản, lễ hội truyền thống.

Thứ hai, quản lý, điều tra và tổ chức lớp học linh hoạt:

Đối với cấp tỉnh: kiện toàn Ban chỉ đạo, xây dựng cơ sở dữ liệu số về XMC; biên soạn tài liệu phù hợp với văn hóa, ngôn ngữ địa phương.

Đối với cấp xã: rà soát 2 lần/năm bằng bài kiểm tra thực chất; linh hoạt địa điểm học (nhà dân, nhà văn hóa, điểm trường), thời gian học ban ngày hoặc ban đêm.

Thứ ba, giải pháp chuyên môn và ứng dụng công nghệ. Cấp tỉnh: bồi dưỡng tiếng DTTS cho giáo viên người Kinh; triển khai dạy XMC trực tuyến hoặc qua truyền hình.

Cấp xã: ưu tiên giáo viên là người DTTS; kết hợp phương pháp ghép vần truyền thống và phương pháp Reflect quốc tế.

Thứ tư, củng cố kết quả, chống tái mù chữ gắn với sinh kế.

Cấp tỉnh: luân chuyển sách báo, tổ chức thư viện di động; hỗ trợ học nghề cho người mới biết chữ.

Cấp xã: Trung tâm học tập cộng đồng tổ chức lớp “Hậu XMC”, dạy chữ gắn với dạy nghề ngắn hạn; mở lớp tiếp giai đoạn 2 để đạt mức độ 2.

Thứ năm, cơ chế chính sách và xã hội hóa.

Cấp tỉnh: ban hành mức chi đặc thù; phối hợp Bộ đội Biên phòng, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân.

Cấp xã: chi trả đầy đủ chế độ cho người dạy – học; huy động sinh viên tình nguyện, cán bộ hưu trí, học sinh THPT tham gia dạy XMC dịp hè.

Ông Nguyễn Xuân Thủy khẳng định: XMC là quá trình bền bỉ và cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, trong đó cấp xã đóng vai trò quyết định. “Không để ai bị bỏ lại phía sau” chỉ trở thành hiện thực khi mỗi người dân vùng DTTS được trao cơ hội biết chữ, hiểu chữ và dùng chữ để phát triển cuộc sống. Đây cũng là cách thiết thực nhất để thu hẹp khoảng cách vùng miền và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng xã hội học tập.

Bài viết liên quan

Áp lực lớp 10 ở Hà Nội: Bài toán cung – cầu và “lối ra” cho 60.000 học sinh

Áp lực lớp 10 ở Hà Nội: Bài toán cung – cầu và “lối ra” cho 60.000 học sinh

calendar-icon 30/03/26 15:11
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Kỳ thi vào lớp 10 tại Hà Nội tiếp tục là một trong những “điểm nóng” của giáo dục khi số học sinh tốt nghiệp THCS vượt xa khả năng tiếp nhận của hệ thống trường công lập. Năm học 2026–2027, toàn thành phố có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, trong khi chỉ tiêu vào lớp 10 công lập khoảng 88.000. Điều này đồng nghĩa với việc khoảng 60.000 học sinh sẽ phải lựa chọn các hướng đi khác ngoài hệ thống công lập. Hiện Hà Nội có khoảng 117 trường THPT công lập, song theo các chuyên gia, quy mô này vẫn chưa theo kịp tốc độ gia tăng dân số và nhu cầu học tập. Dù thành phố đã và đang xây dựng thêm một số trường mới, việc mở rộng hạ tầng giáo dục đòi hỏi thời gian dài và nguồn lực lớn, khó giải quyết áp lực trong ngắn hạn. Các chuuyên gia cho rằng, để giảm áp lực bền vững cho kỳ thi vào lớp 10 Hà Nội cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng nguồn cung cơ sở giáo dục. (Ảnh minh...
Nóng trong tuần: Kết quả nổi bật của ngành Giáo dục trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng

Nóng trong tuần: Kết quả nổi bật của ngành Giáo dục trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng

calendar-icon 27/01/26 08:30
Theo Giáo dục thời đại - Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn trả lời báo chí nhân dịp Đại hội XIV của Đảng; kết quả thi chọn Học sinh giỏi quốc gia... là thông tin giáo dục nổi bật tuần qua. Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của ngành Giáo dục Ngày 20/1, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng chính thức khai mạc. Nhân sự kiện này, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn đã trả lời phỏng vấn báo chí về những kết quả nổi bật của ngành Giáo dục trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, cùng các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới. Bộ trưởng cho biết: Nhiệm kỳ 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XIII là một giai đoạn đặc biệt đối với giáo dục và đào tạo. Đây là giai đoạn tiếp tục triển khai mạnh mẽ việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cùng các chủ trương, định hướng lớn...
Siết quản lý bằng quốc tế, bảo vệ người học

Siết quản lý bằng quốc tế, bảo vệ người học

calendar-icon 20/12/25 08:06
Theo Giáo dục thời đại - Một số “bằng tốt nghiệp quốc tế” không được công nhận tại Việt Nam trong thời gian qua đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về hoạt động liên kết, đào tạo và cấp văn bằng có yếu tố nước ngoài. Ảnh minh họa INT. Vấn đề không chỉ dừng lại ở tính pháp lý của tấm bằng, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người học, uy tín của cơ sở giáo dục và niềm tin xã hội đối với cơ sở đào tạo. Cùng với xu thế hội nhập quốc tế, nhu cầu học tập các chương trình “quốc tế”, “liên kết quốc tế”, “bằng nước ngoài” ngày càng gia tăng, với kỳ vọng nhận được văn bằng có giá trị toàn cầu, tạo lợi thế khi học tiếp hoặc tham gia thị trường lao động. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không phải mọi chương trình gắn mác “quốc tế” đều được cơ quan có thẩm quyền công nhận. Trong nhiều trường hợp, người học chỉ nhận ra “có vấn đề” khi sử dụng văn bằng để xét tuyển, xin việc hoặc học lên cao hơn...