Học sinh giảm chọn môn tự nhiên: Lựa chọn an toàn hay dấu hiệu lệch hướng?

calendar-icon 14/04/26 15:40
Tác giả: Huyền Anh (TH)

Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Tỷ lệ học sinh chọn các môn khoa học xã hội trong kỳ thi tốt nghiệp THPT tăng nhanh qua từng năm, trong khi các môn khoa học tự nhiên ngày càng giảm sức hút. Đằng sau xu hướng này không chỉ là bài toán điểm số, mà còn phản ánh những vấn đề mang tính hệ thống của giáo dục phổ thông.

Khoa học tự nhiên ngày càng ít người chọn

Xu hướng học sinh lựa chọn các môn khoa học xã hội thay vì khoa học tự nhiên trong kỳ thi tốt nghiệp THPT đang thể hiện ngày càng rõ nét, không chỉ qua số liệu đăng ký dự thi mà còn qua thực tế tại nhiều trường phổ thông.

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2024 có hơn 1,07 triệu thí sinh đăng ký, trong đó khoảng 63% chọn bài thi khoa học xã hội, trong khi chỉ khoảng 37% chọn khoa học tự nhiên. So với năm 2019 – thời điểm tỷ lệ chọn khoa học xã hội mới ở mức khoảng 52% – con số này đã tăng đáng kể.

Ở kỳ thi năm 2025, sự chênh lệch tiếp tục thể hiện rõ. Trong khoảng 1,16 triệu thí sinh, số đăng ký thi các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học thấp hơn đáng kể so với các môn Lịch sử, Địa lý hay Giáo dục công dân.

Thực tế tại các trường học cũng cho thấy sự dịch chuyển rõ rệt. Tại một trường THPT ở Bắc Ninh, khảo sát cho thấy chỉ khoảng 4% học sinh lựa chọn tổ hợp khoa học tự nhiên. Tại TP.HCM, trong một khối 12 có 10 lớp, chỉ khoảng 3 lớp theo định hướng tự nhiên, còn lại nghiêng về khoa học xã hội.


Học sinh ngày càng ít chọn các môn khoa học tự nhiên. (Ảnh minh họa)

Áp lực điểm số chi phối lựa chọn

Theo các giáo viên, việc học sinh nghiêng về các môn khoa học xã hội trước hết xuất phát từ bài toán điểm số.
Trong bối cảnh kỳ thi tốt nghiệp THPT vừa để xét tốt nghiệp, vừa là căn cứ tuyển sinh đại học, nhiều học sinh lựa chọn môn thi theo hướng tối ưu hóa cơ hội. Phổ điểm những năm gần đây cho thấy các môn khoa học xã hội thường có mức điểm trung bình cao hơn hoặc dễ đạt ngưỡng điểm “an toàn”.

Trong khi đó, các môn khoa học tự nhiên như Vật lý, Hóa học, Sinh học có độ phân hóa cao, yêu cầu tư duy logic và khả năng vận dụng kiến thức, khiến việc đạt điểm cao trở nên khó khăn hơn.

Khó bù đắp nếu hổng kiến thức nền

Một nguyên nhân quan trọng khác đến từ đặc thù của các môn khoa học tự nhiên.
Không giống các môn xã hội có thể tăng tốc trong giai đoạn ôn thi, các môn tự nhiên đòi hỏi quá trình tích lũy kiến thức liên tục và có tính hệ thống cao. Chỉ cần hổng kiến thức từ lớp 10 hoặc lớp 11, học sinh rất khó lấy lại nền tảng trong thời gian ngắn trước kỳ thi.

Điều này khiến không ít học sinh dù từng học khá các môn tự nhiên vẫn chuyển hướng sang tổ hợp xã hội khi bước vào giai đoạn ôn thi cuối cấp.

Gốc rễ từ định hướng sớm và cấu trúc thi cử

Theo TS Đặng Văn Sơn, giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, xu hướng giảm lựa chọn các môn khoa học tự nhiên không xuất hiện đột ngột ở bậc THPT mà bắt nguồn từ sớm hơn, đặc biệt ở cấp THCS.

Trong nhiều năm, kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 chủ yếu xoay quanh ba môn Toán, Ngữ văn và Ngoại ngữ, khiến học sinh và phụ huynh hình thành tâm lý “thi gì học nấy”. Từ đó, các môn khoa học tự nhiên không được đầu tư tương xứng ngay từ đầu.

Việc Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho phép lựa chọn tổ hợp môn từ sớm, trong bối cảnh nền tảng chưa vững, càng làm rõ xu hướng này. Nhiều học sinh lựa chọn các tổ hợp xã hội như một phương án an toàn để hạn chế rủi ro điểm số.

Theo
Đặng Văn Sơn, đây là dấu hiệu cần được nhìn nhận nghiêm túc, đòi hỏi rà soát lại toàn bộ chuỗi vận hành của hệ thống giáo dục – từ định hướng chọn môn, áp lực thi cử, đến tổ chức dạy và học ở các cấp.


Tỷ lệ phần trăm học sinh chọn các môn thi tốt nghiệp THPT năm 2025 - cán cân nghiêng hẳn về các môn khoa học xã hội. (Ảnh: TS Đặng Văn Sơn thực hiện trên số liệu chính thức của Bộ GD&ĐT, tổng số thí sinh 1.165.289, tỷ lệ được làm tròn).

Nguy cơ mất cân đối nguồn nhân lực

Xu hướng học sinh nghiêng mạnh về các môn khoa học xã hội không chỉ dừng lại ở câu chuyện thi cử, mà còn liên quan đến bài toán dài hạn về nguồn nhân lực.

Trong bối cảnh khoa học – công nghệ giữ vai trò then chốt, việc giảm quan tâm tới các môn khoa học tự nhiên có thể dẫn tới mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề, ảnh hưởng đến chiến lược phát triển nhân lực chất lượng cao.

Nếu không có điều chỉnh kịp thời, xu hướng này có thể tiếp diễn, tạo ra những hệ lụy vượt ra ngoài phạm vi nhà trường.

Bài viết liên quan

Sở GD&ĐT không phối hợp bất kỳ cuộc thi nào thu phí học sinh

Sở GD&ĐT không phối hợp bất kỳ cuộc thi nào thu phí học sinh

calendar-icon 03/12/25 08:28
Theo Giáo dục thời đại - Sở GD&ĐT TPHCM yêu cầu các cơ sở giáo dục trên địa bàn rà soát, chấn chỉnh việc tổ chức các cuộc thi trực tuyến phát sinh phí của học sinh. Ngày 2/12 ông Nguyễn Bảo Quốc, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM đã ký văn bản trả lời một đơn vị về việc đề nghị phối hợp, đồng hành tổ chức một chương trình dành cho học sinh phổ thông năm học 2025-2026. Văn bản nêu rõ, căn cứ quy định của Bộ GD&ĐT về tinh giảm các cuộc thi dành cho giáo viên và học sinh phổ thông, đồng thời nhằm đảm bảo không tạo thêm áp lực tài chính đối với học sinh và phụ huynh, Sở GD&ĐT TPHCM không phối hợp, không đồng hành trong việc tổ chức các cuộc thi có thu phí đối với học sinh dưới bất kỳ hình thức nào. Trước đó, một đơn vị đã gửi công văn đến Sở GD&ĐT TPHCM đề nghị phối hợp, đồng hành tổ chức chương trình liên quan sân chơi toán học dành cho học sinh phổ thông năm 2025-2026. Sở GD&ĐT TPHCM khẳng định không có cơ sở...
 Chuẩn hóa chế độ làm việc, nâng chất lượng đào tạo nghề

Chuẩn hóa chế độ làm việc, nâng chất lượng đào tạo nghề

calendar-icon 16/03/26 18:06
Theo Giáo dục thời đại - Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc mới nhất đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp.  Sinh viên Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội. Ảnh: NTCC Việc chuẩn hóa định mức giờ chuẩn, tách bạch thời gian giảng dạy với thời gian dành cho bồi dưỡng, nghiên cứu, đồng thời tăng tính minh bạch trong phân công và quản lý khối lượng công việc được kỳ vọng tạo điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy đổi mới quản trị tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. 3 điểm sáng mang tính chiến lược Theo ông Phạm Xuân Khánh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội, đổi mới thể chế giáo dục nghề nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật quốc gia. Trước đây, chế độ làm việc của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp chủ yếu được điều chỉnh bởi các văn bản ban hành trong giai đoạn 2017-2022, tập trung vào quy định định mức giờ giảng và quản lý lao động sư phạm theo hướng hành chính....
 Nâng phụ cấp tối thiểu 70%: Động lực giữ chân giáo viên mầm non

Nâng phụ cấp tối thiểu 70%: Động lực giữ chân giáo viên mầm non

calendar-icon 25/02/26 09:21
Theo Giáo dục thời đại - Khi phụ cấp nghề được nâng lên mức tối thiểu 70%, giáo viên mầm non sẽ yên tâm gắn bó với nghề, đồng thời phát huy hiệu quả trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ. Trẻ tại Trường Mầm non An Khánh B (An Khánh, Hà Nội) trong một hoạt động góc dưới sự hướng dẫn của cô giáo. Ảnh: Đình Tuệ Kịp thời và nhân văn Tháng 12/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua chủ trương nâng phụ cấp tối thiểu lên 70% đối với giáo viên – quyết sách được kỳ vọng tạo “cú hích” giữ chân giáo viên và thu hút sinh viên theo học các trường sư phạm. Theo bà Trương Thị Tuyền – Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non An Khánh B (Hà Nội), việc nâng phụ cấp ưu đãi nghề cho giáo viên mầm non lên 70% không chỉ là con số tăng thêm trên bảng lương. Đây là quyết sách mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện sự thấu hiểu của Đảng và Nhà nước trước những nhọc nhằn của đội ngũ giáo viên ở bậc học đầu đời. Giáo dục mầm non...