Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học: Không dàn hàng ngang

calendar-icon 05/01/26 11:19
Tác giả: Minh Phong

Theo Giáo dục thời đại - Thực chất cho thấy, chất lượng dạy và học tiếng Anh còn nhiều chênh lệch, đặc biệt ở vùng khó khăn, khi năng lực học sinh chưa đồng đều, điều kiện dạy học hạn chế và thiếu giáo viên.

Học sinh Trường Tiểu học Mồ Dề, tỉnh Lào Cai học tiếng Anh qua sự hỗ trợ trực tuyến của giáo viên tại Hà Nội. Ảnh: Nghiêm Huê

Những bất cập này đặt ra thách thức lớn cho mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Thiếu giáo viên trầm trọng

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam vừa khảo sát thực trạng dạy và học tiếng Anh tại ba địa phương trước khi sáp nhập địa giới hành chính gồm Hà Nội, Tuyên Quang và Sóc Trăng, với 1.440 học sinh và 960 giáo viên tham gia. Theo ông Đỗ Đức Lân - Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Hợp tác và Phát triển, tại khu vực nông thôn, có khoảng 30 - 40% học sinh chưa tự tin về năng lực tiếng Anh, dù điểm số trên học bạ vẫn ở mức khá.

Đánh giá của giáo viên cho thấy, chỉ 3 - 4% học sinh đạt mức vượt chuẩn; 50% đạt chuẩn; khoảng 35% gần đạt và phần còn lại chưa đạt yêu cầu. Đáng chú ý, 14% học sinh cho rằng bài kiểm tra, đánh giá môn Tiếng Anh chưa phù hợp; nhiều em chịu áp lực khi học, thiếu môi trường thực hành và cơ hội được đánh giá thường xuyên ở kỹ năng nghe - nói.

Về điều kiện dạy học, phần lớn giáo viên (40 - 50%) nhận định nhà trường mới đáp ứng được một phần yêu cầu. Chỉ 25 - 27% cho biết điều kiện được đáp ứng đầy đủ. Tỷ lệ giáo viên đủ năng lực dạy các môn học bằng tiếng Anh còn rất thấp. Nhiều cán bộ quản lý và giáo viên chung quan điểm rằng việc triển khai dạy học tích hợp bằng tiếng Anh gặp khó khăn chủ yếu do hạn chế về đội ngũ. Từ kết quả khảo sát, ông Đỗ Đức Lân đặt vấn đề: Việc thực hiện các đề án tăng cường ngoại ngữ liệu có gặp trở ngại khi tiếng Anh chỉ là môn thi tự chọn trong Kỳ thi tốt nghiệp THPT?

Toàn huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang cũ (nay thuộc Tuyên Quang) chỉ có một giáo viên tiếng Anh cho 18 trường tiểu học. Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, Tiếng Anh là môn bắt buộc từ lớp 3, nhưng các trường đang đối mặt thách thức lớn về thiếu giáo viên. Bà Lục Thị Hà - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Pả Vi, cho biết chỉ tiêu tuyển dụng còn nhiều, song hầu như không tuyển được, khiến việc triển khai môn học gặp nhiều khó khăn.

Cơ bản đồng tình với chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, song bà Nguyễn Thị Lan Anh (Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai) bày tỏ băn khoăn trước mục tiêu “đến năm 2030, ít nhất 30% cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông có thiết bị triển khai dạy học tiếng Anh”. Theo bà, việc áp dụng đồng loạt tỷ lệ 30% cho mọi địa phương, không tính đến điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng và nguồn nhân lực, là chưa phù hợp.

Điều này có thể dẫn tới thiếu công bằng, nhất là với các tỉnh miền núi, vùng sâu, xa và khu vực đồng bào dân tộc thiểu số - nơi hiện gặp nhiều rào cản như thiếu giáo viên, năng lực giảng dạy hạn chế và gánh nặng ngân sách cho thiết bị, vận hành.

Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai. Ảnh minh họa: Internet

Bảo đảm điều kiện triển khai

Về đội ngũ giáo viên - yếu tố quyết định trong lộ trình đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, bà Huỳnh Thị Ánh Sương (Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi) nhấn mạnh, giáo viên không chỉ cần kiến thức chuyên sâu và nắm vững thuật ngữ chuyên ngành, mà còn phải có kỹ năng tiếng Anh tốt. Tuy nhiên, hiện, các cơ sở đào tạo chủ yếu mới đáp ứng nhu cầu giáo viên dạy tiếng Anh, chưa chú trọng đào tạo giáo viên các môn học bằng tiếng Anh. Ở vùng sâu, xa, tình trạng thiếu giáo viên tiếng Anh càng nghiêm trọng.

Đại biểu đề nghị cần cụ thể hóa mục tiêu đến năm 2030 theo hướng bồi dưỡng, đào tạo giáo viên đủ năng lực dạy học bằng tiếng Anh. Mục tiêu này phải tương ứng với tỷ lệ cơ sở giáo dục được trang bị thiết bị phục vụ dạy - học bằng tiếng Anh; tránh tình trạng đầu tư thiết bị nhưng không có giáo viên vận hành, gây lãng phí.

Đồng quan điểm, bà Trần Khánh Thu (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) dẫn thực trạng, cả nước đang thiếu khoảng 4.000 giáo viên tiếng Anh; riêng giáo viên vùng núi có độ tuổi trung bình cao (44,2 tuổi), khó đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp. Cơ sở vật chất giữa các vùng miền vẫn còn chênh lệch lớn, nhiều nơi chưa có phòng học, thiết bị phù hợp. Bà lo ngại việc đầu tư thiết bị trong khi đội ngũ không đủ chuẩn sẽ làm giảm hiệu quả chính sách.

Từ thực tiễn đó, đại biểu kiến nghị xây dựng lộ trình cụ thể, ưu tiên cho vùng khó khăn. Trong đó, cần hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng phòng ngoại ngữ đạt chuẩn cho các trường ở huyện miền núi trước năm 2030; tăng phụ cấp thu hút lên 70% - 100% lương cơ bản, hỗ trợ nhà ở để thu hút giáo viên giỏi về công tác. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, mở rộng lớp học trực tuyến, khai thác trí tuệ nhân tạo nhằm bù đắp thiếu hụt nhân lực; xây dựng các trung tâm tiếng Anh theo mô hình liên xã để nâng cao cơ hội tiếp cận cho học sinh vùng khó khăn.

Ông Nguyễn Thế Sơn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ GD&ĐT), cho biết, Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai dự kiến tác động tới khoảng 50.000 cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học, với gần 30 triệu trẻ em, học sinh, sinh viên và hơn 1 triệu cán bộ quản lý, giáo viên trên cả nước.

Đề án triển khai trong 20 năm (2025 - 2045), qua ba giai đoạn: 2025 - 2030: Xây dựng nền tảng, chuẩn hóa; 2030 - 2035: Mở rộng, tăng cường sử dụng tiếng Anh; 2035 - 2045: Hoàn thiện, hình thành hệ sinh thái sử dụng tiếng Anh tự nhiên trong dạy học, giao tiếp và quản trị nhà trường.

Liên quan việc thiếu giáo viên, ông Sơn cho biết không chỉ môn Tiếng Anh mà nhiều môn học khác cũng thiếu. Bộ sẽ phối hợp với Cục Nhà giáo để tham mưu giải pháp tổng thể. Các địa phương cần chủ động xây dựng kế hoạch, đặc biệt về đội ngũ; xem xét các cơ chế thu hút giáo viên về vùng khó, mở rộng sử dụng giáo viên ngoài biên chế hoặc giáo viên nước ngoài để đáp ứng nhu cầu giảng dạy.

Ông Nguyễn Thế Sơn cho biết, Bộ GD&ĐT khẳng định sẽ triển khai theo lộ trình, ưu tiên các địa phương có điều kiện, không dàn hàng ngang. Vấn đề giữ gìn tiếng mẹ đẻ và dạy tiếng của nước láng giềng ở vùng biên giới cũng được tính toán trong quá trình xây dựng kế hoạch.

Bài viết liên quan

Công bằng tiếp cận giáo dục giữa lòng đô thị

Công bằng tiếp cận giáo dục giữa lòng đô thị

calendar-icon 23/12/25 10:07
Theo Giáo dục thời đại - Bình đẳng cơ hội giáo dục không chỉ là câu chuyện của trẻ em miền núi, biên giới, hải đảo, mà cần được bảo đảm ngay giữa lòng đô thị, khu công nghiệp, chế xuất. Một hoạt động giáo dục của cô và trò Trường Mầm non Thuận Giao tại KCN phường Thuận Giao (TPHCM). Ảnh: ITN Bởi thực tế còn nhóm đối tượng ít được nhắc tới nhưng gặp không ít rào cản trong tiếp cận giáo dục là con em công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất. Thiếu cơ sở giáo dục công lập Cả nước có khoảng 260 khu công nghiệp, chế xuất đang hoạt động với 2,8 triệu lao động. Tuy nhiên, tại các khu này chỉ có 112 trường mầm non, đáp ứng được 45% nhu cầu gửi trẻ của công nhân. TS Nguyễn Hải Hữu - Hiệp hội Giáo dục nghề nghiệp và Nghề công tác xã hội Việt Nam - cho rằng, tình trạng thiếu cơ sở mầm non công lập cho con em công nhân diễn ra phổ biến ở hầu hết địa phương có khu công nghiệp. Dù Chính phủ đã ban...
Thí điểm dạy học trí tuệ nhân tạo ở tiểu học: Phù hợp xu thế giáo dục hiện đại

Thí điểm dạy học trí tuệ nhân tạo ở tiểu học: Phù hợp xu thế giáo dục hiện đại

calendar-icon 19/12/25 08:33
Theo Giáo dục thời đại - Việc Bộ GD&ĐT đề xuất thí điểm dạy học trí tuệ nhân tạo (AI) từ cấp tiểu học được đánh giá là bước đi cần thiết trong tiến trình chuyển đổi số giáo dục. Giờ học của học sinh Trường Tiểu học Thuận Kiều (phường Đông Hưng Thuận, TPHCM). Ảnh: Hồ Phúc Chủ trương này mở ra cơ hội hình thành tư duy số, năng lực công dân số cho học sinh ngay từ sớm, đồng thời thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Cơ hội mở lối chuyển đổi số Theo chia sẻ của lãnh đạo các nhà trường, thí điểm giáo dục AI từ tiểu học là hướng đi khả quan và cần thiết, phù hợp với xu thế giáo dục hiện đại. Đây được xem là bước đi mang tính chiến lược nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực cho Việt Nam trong kỷ nguyên số, nơi AI ngày càng hiện diện sâu rộng trong mọi lĩnh vực của đời sống, kinh tế và giáo dục. Ông Nguyễn Văn Tới - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Phước Thạnh (xã Thái Mỹ, TPHCM) cho rằng, giáo dục AI ở...
Đề xuất nới quản lý dạy thêm, học thêm đảm bảo quyền lợi cho giáo viên và học sinh

Đề xuất nới quản lý dạy thêm, học thêm đảm bảo quyền lợi cho giáo viên và học sinh

calendar-icon 19/03/26 13:26
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Sau thời gian triển khai Thông tư 29 và ghi nhận nhiều phản hồi trái chiều, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiến hành lấy ý kiến để điều chỉnh quy định liên quan đến hoạt động dạy thêm, học thêm theo hướng linh hoạt hơn.  Theo thông tin từ Bộ Giáo dục & Đào tạo cho thấy, định hướng sửa đổi lần này không còn tập trung vào việc hạn chế tuyệt đối, mà chuyển sang thừa nhận nhu cầu học thêm chính đáng của học sinh cũng như quyền giảng dạy hợp pháp của giáo viên. Đi cùng với đó là việc thiết lập cơ chế quản lý chặt chẽ hơn nhằm ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như dạy thêm trá hình, ép buộc học sinh hoặc lợi dụng để thu lợi. Cách tiếp cận mới được đánh giá là sự điều chỉnh cần thiết, trong bối cảnh quy định hiện hành dù đạt được một số kết quả nhất định nhưng cũng bộc lộ nhiều bất cập. Khi Thông tư 29 có hiệu lực từ đầu năm 2025, việc giới hạn dạy thêm trong nhà trường chỉ...