Du học sinh chuộng ngành Kinh doanh và Kỹ sư tại các nước nói tiếng Anh

calendar-icon 05/06/26 13:50
Tác giả: Huyền Anh (TH)

Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Kinh doanh và Kỹ sư tiếp tục là hai ngành học được nhiều du học sinh lựa chọn tại Mỹ, Canada, Anh và Australia, do phù hợp với nhu cầu nhân lực toàn cầu. Bên cạnh đó, tại từng quốc gia, sinh viên quốc tế cũng có những lựa chọn ngành học đặc thù như Luật, Y, Sức khỏe hay Nông nghiệp.

Du học sinh các nước (Ảnh minh hoạ: Báo Chính phủ)

Tại hội thảo du học với sự tham gia của gần 30 đại học danh tiếng thế giới đến từ Mỹ, Canada và Anh, các chuyên gia đã chia sẻ về xu hướng chọn ngành nghề của du học sinh hiện nay.

Theo báo cáo Open Doors, tại Mỹ, những ngành được du học sinh lựa chọn nhiều nhất là Kỹ sư, Kinh doanh, Khoa học máy tính, Toán và Thống kê. Nguyên nhân đến từ nhu cầu nhân lực lớn và triển vọng xin visa H1B.

Tại Canada, xu hướng khá tương đồng, nổi bật là Kinh doanh, Kỹ sư, Khoa học máy tính và Chăm sóc sức khỏe. Trong thập kỷ qua, nhu cầu nhân sự về y tế và công nghệ tại Canada tăng mạnh.

Ở Anh, sinh viên quốc tế chuộng Kinh doanh, Luật, Khoa học máy tính, Tâm lý và Khoa học xã hội. Đặc biệt, tại đây có thể học thẳng ngành Luật từ bậc đại học, thuận lợi hơn so với Mỹ và Canada. Vì vậy, tỷ lệ du học sinh chọn Luật và Y tại Anh cao hơn.

Tại Australia, ngoài các ngành phổ biến như Kinh doanh, Kỹ sư, nhiều sinh viên còn theo học Nông – Lâm nghiệp nhờ điều kiện tự nhiên đa dạng.

Đánh giá tổng thể, bà Lê Diệu Linh – Phó Giám đốc Tổ chức giáo dục Summit – nhận định: “Kinh doanh và Kỹ sư là hai ngành có sức hút lớn nhất tại Mỹ, Canada, Anh và Australia do phù hợp với thị trường lao động toàn cầu. Tuy nhiên, mỗi quốc gia vẫn có những ngành đặc thù nổi bật hơn cả”.

Theo bà Linh, khi chọn ngành, sinh viên cần cân nhắc đến kế hoạch lâu dài: ở lại nước sở tại hay trở về Việt Nam. “Một số ngành rất ‘hot’ ở nước ngoài nhưng lại ít tiềm năng trong nước và ngược lại. Ví dụ, Marketing không còn quá ‘hot’ tại Mỹ hay Canada, nhưng Tâm lý học lại có nhiều đất phát triển hơn so với Việt Nam”, bà phân tích.

Chuyên gia cũng lưu ý không nên chỉ chọn ngành theo trào lưu hiện tại mà cần nhìn xa 10–20 năm. “Ngành học phải gắn với kỹ năng sống còn, vì những ngành ‘hot’ bây giờ có thể thoái trào nhanh chóng”, bà Linh nhấn mạnh.

Ông Dương Văn Linh, chuyên gia tư vấn nghề nghiệp tại Mỹ, bổ sung rằng sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi cơ cấu ngành nghề. “Mười năm trước, tài chính được xem là ngành ‘hot’, nay công nghệ lại chiếm ưu thế. Trong 5–10 năm tới, xu hướng sẽ tiếp tục thay đổi, học sinh – phụ huynh cần tìm hiểu kỹ trước khi quyết định”, ông nói.

Top những ngành nghề có triển vọng tăng trưởng tuyển dụng trong 10 năm tới dành cho sinh viên quốc tế. (Nguồn: Cục Thống kê lao động Mỹ)

Theo Cục Thống kê lao động Mỹ, các ngành có triển vọng tăng trưởng tuyển dụng mạnh trong giai đoạn 2023–2033 gồm: khoa học dữ liệu (36%), kỹ sư phần mềm (17,9%), phân tích CNTT (16,3%)… với mức lương trung bình 100.000–130.000 USD/năm (tương đương 2,5–3,3 tỷ đồng).

Bài viết liên quan

Tuần học 4 ngày: Gánh nặng cho phụ huynh?

Tuần học 4 ngày: Gánh nặng cho phụ huynh?

calendar-icon 12/12/25 11:17
Theo Giáo dục thời đại - Bên cạnh tuần làm việc 4 ngày, nhiều nước châu Âu đang cân nhắc áp dụng mô hình này cho giáo dục. Giáo viên Anh căng thẳng vì khối lượng công việc lớn. Tuy nhiên, phía sau đó là hàng loạt thách thức về hậu cần, tài chính và công bằng giáo dục. Tại Pháp, một số trường học đang thử áp dụng mô hình tuần học 4 ngày, trong đó, học sinh nghỉ thứ 6 để có nhiều thời gian hơn bên gia đình. Ở Bỉ, học sinh nghỉ học vào thứ 4 hàng tuần và cuối tuần. Tại Anh, dù mô hình trên đang được cân nhắc nhưng nhiều cha mẹ, giáo viên và quản lý nhà trường ủng hộ. Động lực lớn nhất phía sau đề xuất này là cải thiện phúc lợi tinh thần của giáo viên và học sinh, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống giáo dục Anh đang đối mặt với khủng hoảng nhân sự, áp lực công việc tăng cao và tỷ lệ nghỉ việc ngày càng lớn. Một bài báo của The Guardian gần đây dẫn lời Quỹ Tuần làm việc Bốn ngày, cho rằng...
Hồng Kông hỗ trợ tâm lý cho học sinh vùng cháy

Hồng Kông hỗ trợ tâm lý cho học sinh vùng cháy

calendar-icon 05/12/25 13:42
Theo Giáo dục thời đại - Sau vụ hỏa hoạn nghiêm trọng, chính quyền Hồng Kông đang triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ học sinh. Hoạt động giáo dục nhanh chóng được nối lại để cuộc sống của các em không bị xáo trộn. Nằm trong khu vực diễn ra vụ cháy nghiêm trọng khiến hàng trăm người thương vong, Trường Công lập Baptist Tai Po (TPBPS), Hồng Kông, Trung Quốc, đã phải đóng cửa hơn một tuần qua. Học sinh nhà trường đã được phân bổ đến Trường Tiểu học Công lập Tai Po hoặc Trường Tiểu học Tưởng niệm Thiên chúa giáo NTWJWA Grace gần đó. Văn phòng Giáo dục Hồng Kông khẳng định mục tiêu trọng tâm là giúp học sinh sớm quay lại nhịp học tập bình thường, đồng thời đảm bảo các em được hỗ trợ đầy đủ về học thuật lẫn tâm lý. Bởi lẽ, việc học sinh nghỉ học quá lâu và không có ai chia sẻ về biến cố vừa xảy ra có thể gây ảnh hưởng lớn đến tinh thần của các em. Trong 2 tuần đầu, TPBPS đã phối hợp với các trường trong khu vực để tổ chức...
 Gần 95% học sinh Seoul tích hợp trí tuệ nhân tạo

Gần 95% học sinh Seoul tích hợp trí tuệ nhân tạo

calendar-icon 14/01/26 17:28
Theo Giáo dục thời đại - Hầu hết học sinh trung học tại Seoul, Hàn Quốc đã sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Gen AI) trong học tập, đặc biệt ở các môn ngôn ngữ. Học sinh sử dụng ChatGPT trong học tập. Tuy nhiên, sự phổ biến nhanh chóng này đang khiến giáo viên lo ngại về nguy cơ lệ thuộc công nghệ và gia tăng gian lận. Theo khảo sát tháng 7/2025 của Viện Nghiên cứu và Thông tin Giáo dục Seoul, gần 95% học sinh THCS và THPT thủ đô đã từng sử dụng các công cụ AI tạo sinh như ChatGPT hay Gemini. Cụ thể, trong số 26,6 nghìn học sinh tham gia khảo sát, tỷ lệ sử dụng AI tạo sinh đạt 94,7%. Con số này ở học sinh THCS là 93,8%, trong khi ở bậc THPT lên tới 96,7%. Phần lớn học sinh không chỉ thử nghiệm AI mà tích hợp công nghệ này vào học tập thường ngày. Khoảng 80% học sinh cho biết họ dùng AI cho mục đích học tập, 42,5% sử dụng trong các hoạt động trên lớp và 35,7% phục vụ việc tự học. Xu hướng này...