Thắp sáng tri thức giữa đại ngàn Quảng Ngãi

calendar-icon 15/12/25 16:14
Tác giả: Hoàng Vinh

Theo Giáo dục thời đại - Giữa những bản làng vùng cao Quảng Ngãi, các lớp xóa mù chữ vẫn sáng đèn mỗi tối, nơi những giáo viên tận tâm kiên trì gieo con chữ cho đồng bào.

Lớp học của cô Ngọc. Ảnh: T.H

Nhờ sự bền bỉ ấy, nhiều người lần đầu biết đọc, biết viết, mở ra cơ hội đổi thay cuộc sống và thắp lên niềm tin mới trên những triền núi.

Hành trình tìm chữ của những học viên đặc biệt

Chiều muộn trên những sườn núi phía tây Quảng Ngãi, ánh đèn từ các lớp học xóa mù chữ lại hắt lên giữa sương mỏng.

Anh A Thủi, người thôn Ngọc Leang (xã Tu Mơ Rông), là một trong những học viên chăm chỉ nhất lớp của cô Lê Thị Ngọc (32 tuổi), giáo viên Trường Tiểu học Kim Đồng, xã Tu Mơ Rông. Suốt 3 tháng, tối nào anh cũng đến lớp đúng giờ, dù cả ngày bận rộn với nương rẫy. 45 tuổi mới cầm bút học chữ, anh từng mặc cảm khi không thể giúp con làm bài tập. Từ lúc đăng ký học, anh quyết tâm bỏ rượu, thứ vốn gắn bó cùng những chiều rảnh rỗi để từ đó toàn tâm theo đuổi con chữ.

Anh A Thủi nắn nót từng chữ. Ảnh: T.H

Đường đến lớp chỉ vài đoạn dốc, nhưng với anh là hành trình thay đổi cả cuộc đời. Thi thoảng không hiểu bài, anh đứng bật dậy hỏi bằng giọng phổ thông còn chưa tròn tiếng, khiến cả lớp bật cười. Cô Ngọc không trách, chỉ kiên nhẫn bước lại, giảng từng nét chữ cho anh. Hai tuần sau, anh viết được tên mình, điều tưởng chừng nằm ngoài khả năng.

Biết đọc, biết viết, cuộc sống của anh đổi khác. Anh tự đọc hướng dẫn trồng trọt, tự ghi chép sổ nông sản, điều mà trước đó anh luôn phải nhờ người khác giúp. “Có chữ rồi mới hiểu ra mình thiệt thòi thế nào bấy lâu”, anh A Thủi xúc động nói.

Lớp của cô Ngọc có 18 học viên, mỗi người một câu chuyện nhưng đều gặp chung trở ngại mặc cảm vì không biết chữ. Cô hiểu điều đó nên luôn nhẹ nhàng động viên. Ban ngày họ làm rẫy, tối mệt nhoài mới đến lớp; người mắt kém, người nhớ trước quên sau. Vì vậy, cô phải soạn giáo án riêng, chia nhóm học theo khả năng, kèm cặp người chậm, giao bài nâng cao cho người nhanh.

Lớp học của cô Trịnh Thị Dung. Ảnh: T.H

Để bà con dễ tiếp thu, cô sử dụng những hình ảnh quen thuộc như con gà, củ mì, bát cơm… lồng ghép vào bài dạy. Tính toán thì gắn với số lúa thu hoạch, số heo gà trong chuồng hay tiền bán nông sản. Với cô, học chữ là để ứng dụng vào đời sống chứ không dừng ở lý thuyết. Niềm vui của cô là khi thấy học viên viết được tên mình hay đọc trọn vẹn một câu, những điều giản dị nhưng quý giá.

Sự bền bỉ của những người chọn dạy chữ làm lẽ sống

Không chỉ cô Ngọc, cô Trịnh Thị Dung – giáo viên Trường Tiểu học và THCS xã Ya Ly cũng dành trọn tâm huyết cho công tác xóa mù chữ. Bước sang năm thứ hai đảm nhận nhiệm vụ, cô vẫn giữ nguyên sự say mê như những buổi đầu tiên. Lớp của cô có người 30 tuổi, người đã ngoài 60, mỗi độ tuổi một khó khăn riêng, nhưng tất cả đều chung khát vọng biết đọc, biết viết.

Những ngày dạy chính khóa ở trường vừa kết thúc, cô lại tất tả chuẩn bị để đến lớp xóa mù chữ buổi tối. Cô kể, học viên rất siêng năng. “Chỉ khi nào đau ốm hoặc có việc gia đình, họ mới nghỉ học”, cô Dung nói.

Mọi người chăm chú học. Ảnh: T.H

Nhưng để có được sự ổn định như hôm nay, cô Dung đã trải qua không ít gian nan. Năm trước, cô và đồng nghiệp phải đi từng nhà để vận động. Vào mùa thu hoạch, việc học dễ dang dở khi bà con bận việc. Những lúc ấy, cô lại đi bộ nhiều cây số đường rừng, bất kể trời mưa hay đường trơn, để thuyết phục từng người trở lại lớp. “Họ ngại phát âm sai, sợ tính toán không đúng bị chê cười. Mình phải kiên nhẫn để họ thấy lớp học là nơi thân thiện”, cô Dung kể lại.

Cô Dung cũng tự điều chỉnh giáo án theo từng học viên. Người tiếp thu nhanh được học mở rộng; người chậm, cô ngồi kèm từng phép tính, từng nét chữ, đôi khi đến tận 9 giờ tối vẫn chưa rời lớp. Cô bảo, dạy xóa mù chữ cho người học đã lớn tuổi cần sự kiên trì hơn nhiều lần.

Cô Trịnh Thị Dung – giáo viên Trường Tiểu học và THCS xã Ya Ly cũng dành trọn tâm huyết cho công tác xóa mù chữ. Ảnh: T.H

Ngày chị Y Klưh (39 tuổi, làng Chứ) lần đầu viết được tên mình, cô Dung xúc động đến khó nói thành lời. Chị kể, trước kia sợ cầm bút vì luôn lo viết sai. Nhờ cô Dung tận tình chỉ bảo, giờ chị tự tin hơn, đọc viết không còn là nỗi sợ.

Phó Chủ tịch UBND xã Ya Ly Y Phin cho biết, đội ngũ giáo viên như cô Dung luôn là điểm tựa của công tác xóa mù chữ tại địa phương. Họ không chỉ đứng lớp mà còn đến từng hộ vận động, kiên trì giữ sĩ số. Nhờ vậy, bà con mạnh dạn hơn trong giao tiếp, hiệu quả sản xuất cũng cao hơn. Chính quyền rất trân trọng những đóng góp thầm lặng ấy.

Bà con mạnh dạn hơn trong giao tiếp, hiệu quả sản xuất cũng cao hơn.

Từ sự tận tụy của những cô giáo nơi vùng cao như cô Ngọc, cô Dung, con chữ đã dần len lỏi vào từng mái nhà, từng rẫy nương của đồng bào. Những người chưa biết đọc, biết viết nay mở ra cho mình một cánh cửa mới, cánh cửa của tri thức và tự tin. Chính những lớp học giản dị giữa đại ngàn ấy đang mang lại thay đổi bền bỉ và giàu tính nhân văn cho vùng đất phía tây Quảng Ngãi.

Bài viết liên quan

Học sinh sẽ được miễn phí sách giáo khoa từ năm 2026

Học sinh sẽ được miễn phí sách giáo khoa từ năm 2026

calendar-icon 10/12/25 14:16
Theo Giáo dục thời đại - Từ ngày 1/1/2026, học sinh sẽ được miễn phí sách giáo khoa. Toàn quốc sẽ sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục với tỷ lệ tán thành cao. Sáng 10/12, Quốc hội chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục. Đáng chú ý, kể từ ngày 1/1/2026, học sinh sẽ được miễn phí sách giáo khoa. Đồng thời, toàn quốc sẽ sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Luật quy định văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản thể hiện dưới dạng giấy hoặc số được cấp cho người học khi tốt nghiệp trung học phổ thông; người học hoàn thành chương trình giáo dục, chương trình đào tạo và đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học. Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm: bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng trung học nghề, bằng trung cấp, bằng...
Ban hành Khung nội dung thí điểm giáo dục trí tuệ nhân tạo cho HS phổ thông

Ban hành Khung nội dung thí điểm giáo dục trí tuệ nhân tạo cho HS phổ thông

calendar-icon 16/12/25 13:40
Theo Giáo dục thời đại - Bộ GD&ĐT chính thức ban hành Khung nội dung thí điểm giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông. Khung nội dung giáo dục AI cho học sinh được phát triển dựa trên bốn mạch kiến thức chính, tương ứng với bốn miền năng lực, hòa quyện và bổ trợ cho nhau: Tư duy lấy con người làm trung tâm: Nhấn mạnh mục đích của AI là phục vụ con người, dạy học sinh cách xác định nhu cầu và đánh giá giải pháp AI. Đạo đức AI: Trang bị khả năng nhận diện và phân tích các vấn đề đạo đức, pháp lý, hướng tới việc sử dụng AI một cách có trách nhiệm. Các kỹ thuật và ứng dụng AI: Cung cấp kiến thức cơ bản về cách AI hoạt động và kỹ năng sử dụng các công cụ AI trong thực tế. Thiết kế hệ thống AI: Phát triển năng lực từ mức độ sử dụng đến tự tạo ra các hệ thống AI đơn giản, tập trung vào kỹ năng giải quyết vấn đề. Khung nội dung được thiết kế tương ứng với hai giai đoạn giáo...
Quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng lên hạng II

Quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng lên hạng II

calendar-icon 10/12/25 08:15
Theo Giáo dục thời đại - Độc giả hỏi quy định thời gian giữ chức danh và điều kiện để dự thi hoặc xét lên hạng, của giáo viên tiểu học. Minh họa/INT Tôi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Mỹ thuật năm 2010. Sau đó, tôi là giáo viên hợp đồng môn Mỹ thuật ở trường THCS, có đóng BHXH từ tháng 9/2010 đến tháng 9/2017. Tháng 2/2019, tôi tốt nghiệp đại học chuyên ngành tiểu học và dự thi viên chức giáo viên tiểu học. Từ tháng 4/2020, tôi được xếp vào chức danh giáo viên tiểu học hạng II, hệ số lương 2,34. Ngày 1/7/2024, tôi được xét xếp vào giáo viên tiểu học hạng III mới, hệ số lương 3,00. Vừa qua, khi có đợt xét thăng hạng giáo viên tiểu học hạng II, tôi được trả lời không đủ điều kiện vì chưa đủ 9 năm giữ vị trí của giáo viên tiểu học hạng III. Xin hỏi, thời gian tôi làm giáo viên hợp đồng, có đóng BHXH từ tháng 9/2010 tới tháng 9/2017 có được tính để xét là thời gian tương đương giữ chức danh giáo viên tiểu học hạng III để...