Mở cánh cửa tiếng Việt cho học sinh vùng cao

calendar-icon 29/12/25 09:07
Tác giả: Bài, ảnh: Thế Lượng

Theo Giáo dục thời đại - Tại vùng cao, biên giới Thanh Hóa, nhiều học sinh dân tộc Thái, Mông, Dao, Khơ Mú… gặp không ít khó khăn trong giao tiếp bằng tiếng Việt.

Thầy giáo và học sinh lớp 1 ở điểm lẻ Tà Cóm - Trường Tiểu học Trung Lý 2.

Để giúp học sinh lớp 1, lớp 2 làm quen nhanh và tự tin với ngôn ngữ chung, nhiều trường đã áp dụng các phương pháp giảng dạy sáng tạo thông qua trò chơi ngôn ngữ, kể chuyện và hoạt động trải nghiệm.

Học tiếng Việt từ “chơi” đến “nói”

Phần lớn học sinh lớp 1, lớp 2 ở các dân tộc Thái, Mông, Dao, Khơ Mú… sống trong môi trường chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ, ít hoặc hầu như chưa từng tiếp xúc với tiếng Việt trước khi đến trường. Điều này dẫn đến tình trạng “sốc ngôn ngữ”, khiến các em mất tự tin, khó tiếp thu bài và học tập kém trong những năm đầu.

Tại các xã như Trung Lý, Sơn Thủy, Na Mèo, Pù Nhi, Nhi Sơn, Mường Lý, Tam Chung…, học sinh dân tộc thiểu số chiếm đa số. Việc chưa thành thạo tiếng Việt khiến các em gặp trở ngại trong giao tiếp, tiếp nhận kiến thức và hòa nhập tập thể. Nhiều em rụt rè, ngại nói, thậm chí không phản ứng khi giáo viên gọi tên hay đặt câu hỏi, góp phần làm tăng tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng ở vùng cao.

Trước thực tế ấy, các trường tiểu học đã triển khai những giải pháp dạy học linh hoạt, sáng tạo giúp học sinh làm quen và phát triển kỹ năng nghe, nói tiếng Việt. Một trong những cách làm hiệu quả là dạy học qua trò chơi ngôn ngữ, kể chuyện minh họa và các hoạt động trải nghiệm sinh động.

Cô Hà Tống Nhật Hoa - giáo viên lớp 1 tại bản Suối Hộc, Trường Tiểu học Trung Lý 1, chia sẻ: “Tuần đầu tiên, nhiều em không nói được câu nào. Có em ngồi lặng suốt tiết, không biết trả lời khi tôi gọi tên. Tôi phải dùng nhiều cử chỉ, tranh ảnh, kiên nhẫn gọi từng em, dạy những câu giao tiếp đơn giản như: ‘Con đói không?’, ‘Đi vệ sinh nhé?’... Qua trò chơi ngôn ngữ, các em dần tự tin và mạnh dạn hơn khi nói tiếng Việt”.

Tại Trường Tiểu học Pù Nhi, cô Nguyễn Thị Hưng cho biết: “Chúng tôi áp dụng các trò chơi như Chiếc túi kỳ diệu, Đoán đồ vật, Nối từ với tranh... giúp học sinh vừa học vừa chơi, phát triển phản xạ ngôn ngữ tự nhiên. Các chủ đề xoay quanh cuộc sống hàng ngày như đồ dùng học tập, con vật, người thân, món ăn... giúp các em dễ tiếp thu và hứng thú học tiếng Việt”.

Phương pháp kể chuyện minh họa cũng được sử dụng phổ biến. Qua những câu chuyện như Gà trống và mặt trời, Em bé chăm ngoan, Cây bắp cải…, học sinh làm quen tiếng Việt trong ngữ cảnh cụ thể, dễ hiểu. Sau đó, các em được hỏi đáp, kể lại và đóng vai nhân vật. Dù lời kể còn pha lẫn tiếng mẹ đẻ, điều quan trọng là các em dám nói, dám giao tiếp.

Ông Lê Xuân Viên - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Tam Chung, thông tin: “Đặc thù vùng cao có nhiều dân tộc sinh sống, nên việc tổ chức hoạt động ‘chơi mà học’ bằng tiếng Việt là rất cần thiết. Nhà trường xây dựng môi trường học tập thân thiện, trang trí góc học tiếng Việt sinh động bằng tranh ảnh, đồ vật dán nhãn song ngữ (tiếng dân tộc - tiếng Việt). Nhờ vậy, học sinh được tiếp xúc với tiếng Việt mọi lúc, đặc biệt là các em lớp 1, lớp 2”.

Bên cạnh đó, nhiều trường còn tổ chức “Ngày hội tiếng Việt”, “Câu lạc bộ kể chuyện” hay “Bạn học cùng em”, để học sinh lớp lớn hướng dẫn các em lớp nhỏ luyện nói tiếng Việt trong giờ ra chơi hoặc ở ký túc xá. Đây là mô hình hiệu quả, giúp học sinh giao tiếp thường xuyên, hình thành phản xạ và mở rộng vốn từ.

Hiệu trưởng Trường Tiểu học Pù Nhi, ông Nguyễn Tiến Hiệp, chia sẻ: “Chúng tôi luôn khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp dạy học. Việc kết hợp trò chơi, kể chuyện, hoạt động trải nghiệm giúp học sinh dân tộc hứng thú hơn, chủ động hơn trong học tiếng Việt. Nhờ vậy, khả năng nghe, nói và phản xạ ngôn ngữ của các em tiến bộ rõ rệt”.

Cô giáo Trường Tiểu học Mường Lý rèn tiếng Việt cho học sinh lớp 2.

Nỗ lực của những người gieo chữ vùng cao

Dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số không chỉ là thử thách với học trò, mà còn là bài toán khó với giáo viên. Phần lớn giáo viên không thành thạo tiếng dân tộc, đặc biệt là tiếng Mông, Dao, Khơ Mú…, nên không thể dùng tiếng mẹ đẻ để hỗ trợ. Họ phải tận dụng tối đa cử chỉ, tranh ảnh, mô hình trực quan và lặp đi lặp lại từ ngữ để học sinh hiểu bài.

Bà Ngô Thị Lan - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Trung Lý 1, cho biết: “Nhà trường dạy học linh hoạt, tập trung các tiết chính, đồng thời lồng ghép tăng cường tiếng Việt trong các môn học. Trong môn Toán chẳng hạn, giáo viên dùng ngôn ngữ ngắn gọn, dễ hiểu để học sinh yếu tiếng Việt vẫn có thể theo được bài. Ngoài giờ chính khóa, trường còn tổ chức trò chơi, sinh hoạt tập thể, hoạt động trải nghiệm… để tạo môi trường gần gũi, giúp học sinh rèn kỹ năng ngôn ngữ”.

Theo bà Lan, nhà trường ưu tiên bố trí giáo viên là người địa phương hoặc biết tiếng dân tộc để hỗ trợ học sinh trong giai đoạn đầu chuyển tiếp ngôn ngữ. Với giáo viên mới, cần thời gian gắn bó tối thiểu 2 - 3 năm để hiểu văn hóa, phong tục, tâm lý học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy. “Đây là hướng đi mà chúng tôi kiên trì thực hiện nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt cho học sinh dân tộc, đặc biệt là ở lớp đầu cấp”, bà nhấn mạnh.

Cô trò Trường Tiểu học Mường Lý trong tiết dạy - học tiếng Việt.

Ngân Văn Tùng - học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Mường Lý, nói: “Lúc mới vào lớp 1, em không biết tiếng Việt, rất ngại nói chuyện với cô và bạn. Nhưng nhờ cô thường tổ chức trò chơi, kể chuyện, em dần hiểu và bắt đầu nói tiếng Việt. Giờ em còn giúp bạn nhỏ học nữa, thấy rất vui khi được giao tiếp bằng tiếng Việt”.

Nhiều giáo viên cũng vận động phụ huynh tạo môi trường dùng tiếng Việt tại nhà, khuyến khích con xem tranh, nghe kể chuyện, tập nói tiếng Việt để tăng khả năng thực hành. Dù nhiều phụ huynh chưa rành tiếng phổ thông, song sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình vẫn là yếu tố quan trọng giúp trẻ phát triển ngôn ngữ toàn diện.

Cô Nguyễn Thị Hưng - Trường Tiểu học Pù Nhi, cho biết: “Chúng tôi cố gắng tạo môi trường thân thiện để học sinh không cảm thấy bị ép buộc. Sự tự tin và hứng thú của các em được khơi dậy từ những hoạt động vui chơi, trải nghiệm thực tế”.

Học sinh lớp 1 được thầy giáo hướng dẫn đọc chữ cái tiếng Việt.

Đầu tư bền vững cho hành trình dài

Theo đại diện Sở GD&ĐT Thanh Hóa, ngành Giáo dục địa phương đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về phương pháp dạy tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai cho giáo viên miền núi, giúp nâng cao chất lượng giảng dạy. Tuy nhiên, vẫn còn không ít khó khăn: Thiếu tài liệu phù hợp, học liệu song ngữ có minh họa, cơ sở vật chất hạn chế khiến việc tổ chức hoạt động trải nghiệm gặp trở ngại. Nhiều điểm trường vùng sâu thiếu phòng học, thiết bị, đồ dùng dạy học.

Dù vậy, việc nâng cao kỹ năng tiếng Việt cho học sinh lớp 1, lớp 2 dân tộc thiểu số vẫn được coi là nhiệm vụ cần đầu tư lâu dài và bền bỉ. Ngành Giáo dục đang biên soạn, bổ sung tài liệu dạy học trực quan, dễ hiểu, phù hợp tâm lý và trình độ học sinh. Song song, các tài liệu song ngữ (tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt) được chú trọng nhằm giúp học sinh tiếp thu dễ hơn, đồng thời giữ gìn bản sắc dân tộc.

Hiện nay, các lớp tăng cường tiếng Việt ngoài giờ cho học sinh lớp 1, lớp 2 vùng cao được triển khai rộng rãi. Giáo viên được tập huấn để đổi mới phương pháp, lấy học sinh làm trung tâm, khuyến khích sáng tạo và thực hành thường xuyên. Ngoài ra, Sở GD&ĐT Thanh Hóa còn đang kết nối với các tổ chức xã hội, dự án giáo dục để huy động nguồn lực hỗ trợ trường học vùng cao tổ chức hoạt động sáng tạo, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Xác định sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - cộng đồng giữ vai trò then chốt, ngành Giáo dục đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động phụ huynh sử dụng tiếng Việt trong sinh hoạt, tạo môi trường song ngữ tự nhiên cho học sinh luyện tập hằng ngày. Cùng với đó, các hoạt động như “Ngày hội tiếng Việt”, “Câu lạc bộ kể chuyện”, “Bạn học cùng em” tiếp tục được duy trì, trở thành sân chơi hấp dẫn giúp học sinh yêu thích và sử dụng tiếng Việt linh hoạt hơn.

Tiếng Việt không chỉ là ngôn ngữ dạy học, mà còn là chìa khóa mở cánh cửa tri thức và hội nhập xã hội cho học sinh dân tộc thiểu số. Nỗ lực kiên trì của các thầy, cô giáo vùng cao xứ Thanh trong đổi mới phương pháp, đồng hành cùng học sinh là minh chứng cho tinh thần tận tâm với sự nghiệp “trồng người” nơi biên cương, góp phần bồi đắp thế hệ trẻ dân tộc thiểu số tự tin, vững vàng trên con đường tương lai.

Nhờ đổi mới phương pháp, học sinh lớp 1, 2 chủ động giao tiếp tiếng Việt, hiểu nhanh yêu cầu của giáo viên và đặc biệt các em thích đến lớp hơn, không còn sợ sệt, ngại nói như trước. Giáo viên cũng đỡ vất vả hơn trong truyền đạt bài học. - Ông Hoàng Lê Thành - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Mường Lý

Bài viết liên quan

 Nghiêm túc lựa chọn ngành học để chuẩn bị cho tương lai

Nghiêm túc lựa chọn ngành học để chuẩn bị cho tương lai

calendar-icon 13/03/26 15:31
Theo Giáo dục thời đại - GS.TS Nguyễn Tiến Thảo khuyên học sinh nghiêm túc, trách nhiệm với lựa chọn ngành, trường học. Lựa chọn hôm nay, chuẩn bị cho hành trình tương lai.  Ngày hội tư vấn tuyển sinh, hướng nghiệp năm 2026. Chỉ còn ít tháng nữa, “công dân 2K8” sẽ bước qua cánh cửa quan trọng của cuộc đời - cánh cửa đại học. Đó không chỉ là bước chuyển từ phổ thông lên bậc học cao hơn. Đó là bước chuyển từ sự chuẩn bị sang hành trình tự kiến tạo tương lai. Chia sẻ tại Ngày hội tư vấn tuyển sinh, hướng nghiệp năm 2026, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT) - nhấn mạnh, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên mà trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh, công nghệ số, hội nhập toàn cầu đang tái định hình mọi lĩnh vực. “Những ngành nghề của hôm qua có thể không còn là trung tâm của ngày mai. Những nghề của ngày mai có thể chưa kịp xuất hiện trong sách giáo khoa hôm nay. Những kỹ năng của hôm nay có thể...
Quy định tuyển thẳng lớp 10 tại TP.HCM: Điều kiện, cách đăng ký nguyện vọng qua VNeID

Quy định tuyển thẳng lớp 10 tại TP.HCM: Điều kiện, cách đăng ký nguyện vọng qua VNeID

calendar-icon 13/04/26 11:39
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Sở GD-ĐT TP.HCM ban hành quy định tuyển thẳng vào lớp 10 năm học 2026–2027, nêu rõ đối tượng, điều kiện và cách đăng ký 3 nguyện vọng dựa trên dữ liệu cư trú từ ứng dụng VNeID. Sở GD-ĐT TP.HCM vừa ban hành quy định tuyển thẳng vào lớp 10 THPT công lập năm học 2026–2027, áp dụng với các nhóm học sinh thuộc diện ưu tiên theo quy định. Theo đó, các đối tượng được xét tuyển thẳng gồm: học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú; học sinh thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người; học sinh khuyết tật có xác nhận hợp lệ; học sinh đạt giải cấp quốc gia hoặc quốc tế trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao, khoa học kỹ thuật do Bộ GD-ĐT tổ chức hoặc cử tham gia. Học sinh thuộc diện này đăng ký tại trường THCS đang theo học. Nhà trường có trách nhiệm kiểm tra, xác nhận hồ sơ trước khi tổng hợp và chuyển cấp quản lý thẩm định. (Ảnh minh hoạ: Znews) Quy trình xét duyệt nhiều cấp Việc xét tuyển được thực hiện qua...
Tầm nhìn chiến lược

Tầm nhìn chiến lược

calendar-icon 22/01/26 09:26
Theo Giáo dục thời đại - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19/1 đến 25/1. Theo đó, giáo dục và đào tạo tiếp tục được khẳng định là quốc sách hàng đầu, nền tảng, động lực then chốt cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Cô trò Trường THCS Lương Thế Vinh (TPHCM) trong ngày tựu trường. Ảnh: NTCC Quốc sách hàng đầu Đại hội XIV mở ra chặng đường phát triển với tầm cao, yêu cầu và trách nhiệm mới. Trong hành trình đó, giáo dục và đào tạo giữ vai trò tiên phong, tạo nền móng cho khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Kiên định con đường đổi mới giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng xã hội học tập chính là cách thiết thực để hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) diễn ra trong thời điểm đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu...