Kỳ vọng vào hệ sinh thái học liệu số dùng chung

calendar-icon 21/01/26 10:29
Tác giả: Hải Bình

Theo Giáo dục thời đại - Nhà giáo kỳ vọng việc số hoá bộ sách giáo khoa thống nhất, xây dựng hệ sinh thái học liệu số dùng chung, miễn phí sớm đi vào thực tiễn.

Cô Đình Thị Thủy, giáo viên Trường THCS-THPT Phenikaa trong giờ Ngữ văn.

Thúc đẩy giáo dục chuyển đổi số bền vững

Theo ông Nguyễn Mai Trọng, Hiệu trưởng Trường Tiểu học - THCS A Xing (xã Lìa, Quảng Trị), việc Bộ GD&ĐT triển khai số hóa toàn bộ sách giáo khoa thống nhất và xây dựng hệ sinh thái học liệu số dùng chung, miễn phí mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhà trường, giáo viên và học sinh, đặc biệt ở các vùng khó khăn.

Đối với nhà trường, đây là điều kiện quan trọng để tiếp cận nguồn học liệu chính thống, đồng bộ, cập nhật, qua đó nâng cao chất lượng quản lý và tổ chức dạy học; đồng thời giảm chi phí đầu tư học liệu giấy, tăng tính linh hoạt trong việc kết hợp dạy học trực tiếp và trực tuyến, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và từng bước hình thành môi trường giáo dục số.

Với giáo viên, hệ sinh thái học liệu số cung cấp nguồn tài nguyên phong phú để thiết kế bài giảng sinh động, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; góp phần giảm áp lực chuẩn bị học liệu, tạo điều kiện chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm chuyên môn, đồng thời nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và kỹ năng số.

Đối với học sinh, học liệu số giúp các em tiếp cận đa dạng hình thức học tập như văn bản, hình ảnh, video, bài tập tương tác, từ đó tăng hứng thú và hiệu quả học tập; hỗ trợ tự học mọi lúc, mọi nơi, góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức giữa các vùng miền. Đặc biệt, mô hình này có ý nghĩa lớn đối với học sinh dân tộc thiểu số khi tạo điều kiện học tập linh hoạt, trực quan và phù hợp hơn với điều kiện thực tế.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Hoàng, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Huệ (Hưng Yên) nhận định, chủ trương của Bộ GD&ĐT về số hóa sách giáo khoa và xây dựng hệ sinh thái học liệu số dùng chung, miễn phí là một định hướng lớn, có ý nghĩa chiến lược và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho giáo dục phổ thông.

Hệ sinh thái học liệu số giúp nhà trường từng bước hiện đại hóa hoạt động dạy học, tiết kiệm chi phí đầu tư học liệu, tạo nền tảng xây dựng môi trường giáo dục số đồng bộ, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị và tổ chức dạy học theo định hướng chuyển đổi số.

Việc tiếp cận nguồn học liệu chuẩn hóa, chính thống và đa dạng về hình thức như văn bản, hình ảnh, video hay học liệu tương tác sẽ hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; đồng thời giảm áp lực tự xây dựng học liệu rời rạc, manh mún.

Nguồn học liệu phong phú, miễn phí và dễ tiếp cận mọi lúc, mọi nơi giúp học sinh tăng cơ hội tự học, học tập cá nhân hóa, góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức giữa các vùng miền, đặc biệt là các khu vực còn khó khăn.

Tổng thể, chủ trương này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và thúc đẩy chuyển đổi số ngành Giáo dục theo hướng bền vững.

Giờ học tại Trường THPT Nguyễn Huệ (Hưng Yên).

Cần bảo đảm đủ điều kiện triển khai

Đưa góp ý, cô Đình Thị Thủy, giáo viên Trường THCS-THPT Phenikaa cho rằng, hệ sinh thái học liệu số dùng chung trong thời gian tới cần hướng đến tính tiện ích, dễ sử dụng, giao diện thân thiện và thẩm mỹ. Hệ thống cần vận hành ổn định, tránh tình trạng nghẽn đường truyền khi triển khai đồng loạt trên quy mô lớn.

Nguồn học liệu số phải phong phú, cập nhật thường xuyên, bám sát chương trình giáo dục phổ thông mới và đặc biệt cần có đơn vị chuyên môn, thẩm quyền thẩm định chất lượng. Học liệu không chỉ truyền tải kiến thức mà còn góp phần định hướng nhận thức, hành vi, nhân cách cho người học trong môi trường số, bảo đảm tính giáo dục và nhân văn.

Theo ông Nguyễn Văn Hoàng, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Huệ (Hưng Yên), để chủ động tiếp cận và triển khai hiệu quả chủ trương số hóa sách giáo khoa và xây dựng hệ sinh thái học liệu số dùng chung, các nhà trường cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp.

Trước hết, về hạ tầng và điều kiện kỹ thuật, cần từng bước đầu tư, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, bảo đảm kết nối Internet ổn định và trang bị thiết bị dạy học tối thiểu phục vụ khai thác học liệu số, phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục.

Song song với đó, công tác bồi dưỡng đội ngũ cần được chú trọng, đặc biệt là nâng cao năng lực số cho giáo viên, kỹ năng khai thác, sử dụng và tích hợp học liệu số vào bài giảng; khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, linh hoạt trong tổ chức các hoạt động học tập.

Về tổ chức triển khai, nhà trường cần xây dựng kế hoạch cụ thể, có lộ trình phù hợp; lồng ghép việc sử dụng học liệu số vào sinh hoạt chuyên môn, dự giờ, thao giảng, đồng thời phát huy vai trò của tổ chuyên môn và đội ngũ giáo viên nòng cốt.

Cùng với đó, công tác quản lý và định hướng cũng đóng vai trò quan trọng, đòi hỏi nhà trường ban hành các quy định, hướng dẫn sử dụng học liệu số đúng mục đích, hiệu quả, bảo đảm an toàn thông tin và tuân thủ các quy định về bản quyền, đạo đức, văn hóa trong môi trường số.

Tuy nhiên, theo ông Hoàng, quá trình triển khai chủ trương này cũng có thể phát sinh không ít khó khăn, thách thức.

Đó là sự không đồng đều về hạ tầng và thiết bị giữa các trường, các địa phương; một bộ phận học sinh chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ thiết bị học tập số. Bên cạnh đó, năng lực số của đội ngũ giáo viên còn chưa đồng đều, một số giáo viên còn tâm lý e ngại thay đổi, chưa quen với việc dạy học trên môi trường số.

Khối lượng học liệu lớn, nếu thiếu hướng dẫn khai thác khoa học, cũng có thể gây quá tải, lúng túng trong lựa chọn và sử dụng. Ngoài ra, yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, bản quyền và chất lượng nội dung đặt ra đòi hỏi nhà trường và giáo viên phải tuân thủ nghiêm các quy định hiện hành.

“Đây là những khó khăn mang tính tất yếu trong giai đoạn chuyển đổi và cần được nhìn nhận khách quan để từng bước tháo gỡ”, ông Nguyễn Văn Hoàng cho hay.

Bài viết liên quan

Tỷ lệ chọi lớp 10 TP.HCM: Phân hóa rõ giữa các nhóm trường

Tỷ lệ chọi lớp 10 TP.HCM: Phân hóa rõ giữa các nhóm trường

calendar-icon 05/05/26 10:05
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Tỷ lệ chọi vào lớp 10 tại TP.HCM năm 2026 cho thấy bức tranh cạnh tranh có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm trường. Dù chỉ tiêu được điều chỉnh tăng, áp lực tuyển sinh vẫn tập trung ở những trường “top”, trong khi nhiều trường quy mô lớn lại mở ra thêm cơ hội cho thí sinh nếu có chiến lược lựa chọn phù hợp. Sở GD-ĐT TP.HCM vừa công bố tỷ lệ chọi vào lớp 10 năm học 2026–2027, dựa trên số lượng đăng ký nguyện vọng 1 tại 176 trường THPT công lập. Đây được xem là dữ liệu quan trọng giúp học sinh và phụ huynh đánh giá mức độ cạnh tranh trước khi bước vào giai đoạn điều chỉnh nguyện vọng. Học sinh thi vào lớp 10 TP HCM. (Ảnh: Vietnamnet) Năm nay, quy mô tuyển sinh lớp 10 công lập của thành phố đạt gần 119.000 chỉ tiêu, tương đương hơn 70% số học sinh tốt nghiệp THCS. Nếu tính thêm hệ giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp, tổng tỷ lệ học sinh được tiếp nhận sau THCS lên tới gần 80%....
Giáo dục vì hạnh phúc nhân dân

Giáo dục vì hạnh phúc nhân dân

calendar-icon 06/02/26 09:33
Theo Giáo dục thời đại - Tư tưởng "Dân là gốc" được khẳng định xuyên suốt trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng là kim chỉ nam cho đổi mới giáo dục. Học sinh khối lớp 12, Trường THPT Trần Phú (TPHCM) mong chờ một năm học đầy đổi mới, đột phá và phát triển. Ảnh: Thùy Linh. Từ thực tiễn hơn 40 năm gắn bó với ngành giáo dục, Nhà giáo Ưu tú Chu Xuân Thành - nguyên Trưởng phòng Giáo dục Trung học (Sở GD&ĐT TPHCM), nhấn mạnh giáo dục phải hướng tới con người, vì hạnh phúc thực chất của nhân dân. Trong văn kiện trình Đại hội XIV, Đảng ta khẳng định tư tưởng "Dân là gốc" - nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực của phát triển. Đặt trong lĩnh vực giáo dục, tư tưởng này đòi hỏi mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới nâng cao chất lượng học tập, phát triển con người và mang lại hạnh phúc bền vững cho người dân. Theo Nhà giáo Ưu tú Chu Xuân Thành, giáo dục không nên nhìn nhận đơn thuần như một hoạt...
 Chế độ làm việc giáo viên GD thường xuyên: Hoàn thiện pháp lý, khơi thông động lực

Chế độ làm việc giáo viên GD thường xuyên: Hoàn thiện pháp lý, khơi thông động lực

calendar-icon 26/02/26 17:52
Theo Giáo dục thời đại - Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 04/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với giáo viên tại các cơ sở giáo dục thường xuyên (Thông tư 04). Đây là bước đi kịp thời, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, chuẩn hóa hoạt động và tháo gỡ nhiều vướng mắc trong công tác quản lý, phân công lao động sư phạm tại các đơn vị giáo dục thường xuyên. Tác động tích cực Khẳng định sự cần thiết của việc ban hành Thông tư 04, ông Trần Quang Tứ - Giám đốc Trung tâm GDTX - GDNN Ba Tri (Vĩnh Long), nhấn mạnh ý nghĩa hoàn thiện hành lang pháp lý trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Thông tư đã cụ thể hóa các quy định của luật, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong quản lý và tổ chức thực hiện; khắc phục những khoảng trống, chồng chéo, bất cập còn tồn tại ở những văn bản trước đây. Quy định mới đồng thời phù hợp với thực tiễn đổi mới giáo dục, tăng cường tính tự chủ, minh bạch và trách nhiệm của cơ sở giáo dục;...