Khối ngành khoa học sức khỏe: Nhiều nỗi lo khi chọn trường

calendar-icon 12/03/26 14:34
Tác giả: Lâm Ngọc

Theo Giáo dục thời đại - Nhiều gia đình mong muốn con em theo học các ngành thuộc nhóm Y Dược, song việc lựa chọn cơ sở đào tạo lại trở thành nỗi băn khoăn lớn. 

Sinh viên Y khoa Trường Đại học Tân Tạo thực tập tại bệnh viện. Ảnh: BVĐHYTT

Khi ngày càng nhiều trường đại học đa ngành mở thêm chương trình đào tạo lĩnh vực khoa học sức khỏe bên cạnh các trường chuyên ngành truyền thống, bức tranh tuyển sinh trở nên đa dạng hơn nhưng cũng khiến phụ huynh và học sinh thêm nhiều trăn trở.

Phân vân trước ngưỡng cửa chọn nghề

N.M.H., học sinh lớp 12 tại một trường THPT ở TPHCM, cho biết em luôn ấp ủ ước mơ theo đuổi ngành Y khoa. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của H., điểm chuẩn vào các trường công lập đào tạo ngành này như Trường Đại học Y Dược TPHCM hay Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch nhiều năm qua luôn ở mức rất cao. “Khi thấy một số trường đa ngành ngoài công lập mở ngành Y khoa với điểm chuẩn thấp hơn, em rất vui vì có thêm cơ hội lựa chọn. Nhưng em cũng băn khoăn không biết sau khi tốt nghiệp liệu có dễ tìm việc hay không”, H. chia sẻ.

Thực tế, nỗi lo của H. không phải là trường hợp cá biệt. L.T.T., sinh viên năm 3 ngành Dược học tại một trường đại học đa ngành ở TPHCM, cho biết em thường nghe bạn bè nhắc đến sự khác biệt trong cơ hội thực tập giữa sinh viên các trường chuyên ngành và sinh viên học tại trường đa ngành.

Theo T., nhiều sinh viên ở các trường chuyên về Y Dược có điều kiện thực tập tại những bệnh viện lớn, nơi có lượng bệnh nhân đông, trong khi sinh viên của trường em chủ yếu thực hành trong các phòng thí nghiệm của trường. “Điều đó khiến em khá hoang mang, đôi lúc còn nghĩ đến việc dừng việc học để ôn thi lại”, T. tâm sự.

Không chỉ học sinh, sinh viên, nhiều phụ huynh cũng chung tâm trạng băn khoăn khi con em muốn theo học khối ngành sức khỏe. Chị Hoàng Anh, ngụ phường An Nhơn, TPHCM, cho biết gia đình luôn ủng hộ con theo đuổi nghề y. Tuy nhiên, càng tìm hiểu thông tin tuyển sinh, chị càng cảm thấy khó đưa ra quyết định.

Theo chị, một bên là các trường công lập có uy tín như Trường Đại học Y Dược TPHCM và Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch với điểm chuẩn đầu vào luôn ở mức rất cao, khiến ngay cả những học sinh học lực giỏi cũng chưa chắc nắm chắc cơ hội trúng tuyển. Trong khi đó, một lựa chọn khác là các trường đại học đa ngành có đào tạo nhóm ngành Khoa học sức khỏe với mức điểm chuẩn “dễ thở” hơn, nhưng lại khiến nhiều gia đình băn khoăn về chất lượng đào tạo cũng như cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp.

PGS.TS.BS Nguyễn Trọng Hào - Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, cho rằng việc các trường đại học đa ngành mở thêm ngành Y Dược là xu hướng xuất phát từ nhu cầu thực tế, nhằm đáp ứng tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế đang gia tăng. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh đây là lĩnh vực đào tạo đặc thù, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người, vì vậy, các chuẩn mực về đào tạo phải được đặt ra hết sức nghiêm ngặt.

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Trọng Hào, đào tạo nhóm ngành Y Dược không thể tách rời thực hành lâm sàng tại các bệnh viện, đồng thời cần có đội ngũ giảng viên cơ hữu giàu kinh nghiệm. Việc xây dựng hệ thống cơ sở thực hành đạt chuẩn đòi hỏi thời gian dài và sự đầu tư bài bản, không thể hình thành trong một sớm một chiều. Bên cạnh đó, quá trình đào tạo cũng không thể phụ thuộc quá nhiều vào đội ngũ giảng viên thỉnh giảng khi thiếu một hệ sinh thái đào tạo ổn định và đồng bộ.

Ở khâu tuyển sinh đầu vào, ông cho rằng, điểm số tuy không phản ánh toàn diện năng lực của thí sinh, nhưng đối với ngành Y khoa nói riêng và khối ngành Khoa học sức khỏe nói chung, ngưỡng tuyển sinh cần được duy trì ở mức đủ cao. Điều này nhằm đảm bảo người học có nền tảng kiến thức vững chắc cũng như khả năng theo đuổi quá trình học tập kéo dài và áp lực. Biên độ điểm chuẩn khối ngành Y Dược giữa các trường quá rộng - thường dao động khoảng từ 16 đến 29 điểm - là vấn đề cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc.

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Trọng Hào, nếu không có cơ chế kiểm soát và bảo đảm chất lượng đào tạo một cách thống nhất, trong vòng 5 - 10 năm tới hệ thống y tế có thể phải đối mặt với nhiều hệ lụy. Cụ thể, khoảng cách về năng lực chuyên môn giữa các cơ sở y tế có nguy cơ ngày càng gia tăng, đặc biệt ở tuyến cơ sở; niềm tin của người dân đối với hệ thống y tế có thể bị ảnh hưởng nếu xảy ra các sai sót chuyên môn; đồng thời Nhà nước và xã hội sẽ phải tốn kém thêm chi phí để đào tạo lại nguồn nhân lực sau khi tốt nghiệp.


Tân sinh viên Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch nhập học năm 2025. Ảnh: PNTU

Thị trường lao động sẽ sàng lọc

Dưới góc nhìn của chuyên gia về nguồn nhân lực, ông Trần Anh Tuấn - Phó Chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TPHCM, nhận định vấn đề đào tạo các ngành Y Dược hiện nay không chỉ liên quan đến chất lượng đào tạo, mà còn tác động trực tiếp đến giá trị bằng cấp và cấu trúc nguồn nhân lực của quốc gia.

Theo ông Tuấn, xu hướng tuyển dụng trong lĩnh vực y tế đang dần dịch chuyển từ việc chú trọng tên tuổi trường đào tạo sang đánh giá năng lực thực hành thực tế của ứng viên. Tuy vậy, trên thực tế vẫn tồn tại những mức độ phân biệt nhất định từ phía nhà tuyển dụng.

Đối với các bệnh viện, đặc biệt những cơ sở y tế lớn, quá trình tuyển dụng thường đi kèm sự xem xét kỹ lưỡng về điều kiện thực hành lâm sàng của sinh viên trong quá trình học tập. Những yếu tố như chất lượng giảng viên hướng dẫn, môi trường thực hành và mức độ tiếp xúc với các ca bệnh thực trong suốt 6 năm đào tạo đều được đánh giá cẩn trọng. Trong bối cảnh đó, nhà tuyển dụng ngày càng đề cao kỹ năng thao tác thực tế, thái độ nghề nghiệp cũng như yếu tố an toàn đối với người bệnh.

Một hệ lụy khác được ông Tuấn cảnh báo là nguy cơ “vừa thừa vừa thiếu” nguồn nhân lực khối ngành Y Dược. Việc hạ thấp điểm chuẩn đầu vào để mở rộng quy mô tuyển sinh có thể dẫn đến tình trạng nhiều người có bằng cấp nhưng không đáp ứng được yêu cầu nghề nghiệp. Hệ quả là thị trường lao động xuất hiện tình trạng dư thừa nhân lực có trình độ thấp, trong khi lại thiếu hụt những chuyên gia có tay nghề cao, gây lãng phí nguồn lực xã hội và ảnh hưởng đến chiến lược phát triển nhân lực y tế bền vững.

Bên cạnh đó, thị trường lao động trong lĩnh vực y tế cũng đang hình thành cơ chế sàng lọc tự nhiên. Nhiều cơ sở y tế đã áp dụng quy trình tuyển dụng nghiêm ngặt hơn, như kiểm tra trực tiếp kỹ năng thực hành, phỏng vấn xử lý tình huống lâm sàng hoặc kéo dài thời gian thử việc. Những bước đánh giá này nhằm loại bỏ sớm các ứng viên không đạt yêu cầu. Điều này đồng nghĩa với việc những sinh viên tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo có điểm chuẩn thấp sẽ phải đối mặt với nhiều rào cản hơn khi bước vào thị trường lao động chất lượng cao.

“Đào tạo ngành Y khoa không phải là đào tạo đại trà. Khi trao cho một người tấm bằng bác sĩ cũng đồng nghĩa với việc trao cho họ quyền can thiệp trực tiếp vào sức khỏe và sự sống của con người. Vì vậy, việc nâng cao ngưỡng đầu vào cũng như tăng cường kiểm định chất lượng đào tạo là yêu cầu bắt buộc để bảo đảm sự phát triển bền vững của ngành y tế”, PGS.TS.BS Nguyễn Trọng Hào cho biết.

Bài viết liên quan

Ngành Tâm lý học hút nhân lực, sinh viên có nhiều lựa chọn nghề nghiệp

Ngành Tâm lý học hút nhân lực, sinh viên có nhiều lựa chọn nghề nghiệp

calendar-icon 09/04/26 15:04
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực tâm lý học ngày càng gia tăng, mở ra nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp, từ giáo dục, y tế đến doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Trong bối cảnh xã hội ngày càng quan tâm đến sức khỏe tinh thần và chất lượng nguồn nhân lực, ngành Tâm lý học đang trở thành lựa chọn thu hút nhiều thí sinh. Thực tế cho thấy, sinh viên tốt nghiệp ngành này có thể đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau và được doanh nghiệp tích cực tuyển dụng. Cơ hội việc làm đa dạng Theo ghi nhận, sinh viên ngành Tâm lý học có thể làm việc trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, doanh nghiệp và hoạt động xã hội. Các vị trí phổ biến gồm tư vấn, tham vấn học đường tại các cơ sở giáo dục; chuyên viên tâm lý, trợ lý tâm lý lâm sàng tại bệnh viện, trung tâm; hoặc tham gia các tổ chức xã hội, dự án cộng đồng. Ngoài ra, cử nhân Tâm lý học còn có thể đảm...
Nghiên cứu sinh Bách khoa Hà Nội được hỗ trợ 80–100 triệu đồng từ 2026

Nghiên cứu sinh Bách khoa Hà Nội được hỗ trợ 80–100 triệu đồng từ 2026

calendar-icon 23/03/26 17:02
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Từ năm 2026, Đại học Bách khoa Hà Nội sẽ miễn học phí cho toàn bộ nghiên cứu sinh trúng tuyển, với mức hỗ trợ tương đương 80–100 triệu đồng mỗi khóa, nhằm thu hút và phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu chất lượng cao. Từ năm 2026, Đại học Bách khoa Hà Nội sẽ triển khai chính sách miễn học phí cho toàn bộ nghiên cứu sinh trúng tuyển, với mức hỗ trợ tương đương khoảng 80–100 triệu đồng mỗi khóa đào tạo. Đây được xem là bước đi nhằm khuyến khích đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời tạo điều kiện để người học tập trung vào nghiên cứu khoa học. Từ năm 2026, Đai học Bách khoa Hà Nội sẽ miễn học phí cho tất cả nghiên cứu sinh. (Ảnh: HUST) Theo kế hoạch, thời gian đào tạo tiến sĩ kéo dài khoảng 4 năm, trong khi mức học phí hiện hành khoảng 26 triệu đồng mỗi năm. Trước đó, nhà trường đã duy trì chính sách hỗ trợ tài chính cho học viên, nghiên cứu sinh với tổng kinh phí khoảng 4 tỷ đồng mỗi...
Nghị quyết 57 và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Xây 'tam giác chiến lược'

Nghị quyết 57 và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Xây 'tam giác chiến lược'

calendar-icon 02/02/26 09:06
Theo Giáo dục thời đại - Mô hình hợp tác “3 nhà” (Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp) được xem là cấu trúc then chốt để đưa Nghị quyết 57 từ chính sách vào thực tiễn, thông qua sự đồng thiết kế, đồng triển khai và chia sẻ giá trị. Đại biểu tham quan gian trưng bày sản phẩm đổi mới sáng tạo tại Hội nghị Thúc đẩy hợp tác Ba Nhà, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TPHCM, tháng 11/2025. Ảnh: UTE Trong mô hình này, các trường đại học không chỉ thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực, mà còn cần được tái định vị như những “trung tâm tri thức”, giữ vai trò hạt nhân kết nối Nhà nước và doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện Việc triển khai đồng thời Nghị quyết 57 cùng các nghị quyết quan trọng khác của Trung ương, như Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 52 về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và...