Hoàn thiện chính sách về phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ

calendar-icon 04/03/26 11:53
Tác giả: Hải Bình

Theo Giáo dục thời đại - Bộ GD&ĐT công bố dự thảo Nghị định quy định phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.

Trẻ trường mầm non Tân Phong trải nghiệm tại thư viện số của trường. Ảnh: Hồ Phúc.

Việc xây dựng, ban hành Nghị định nhằm thể chế hóa các quy định tại Nghị quyết số 29-NQ/TW, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục về phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.

Tăng tính ràng buộc đối với giáo dục bắt buộc 9 năm

Dự thảo Nghị định xác định cụ thể giáo dục bắt buộc từ cấp tiểu học đến hết trung học cơ sở. Hoàn thành giáo dục bắt buộc là việc người học hoàn thành chương trình giáo dục trong độ tuổi theo quy định của pháp luật.

Dự thảo đồng thời làm rõ trách nhiệm của gia đình, nhà trường và chính quyền địa phương trong việc bảo đảm trẻ em hoàn thành chương trình học.

Theo đó, mọi công dân trong độ tuổi quy định có nhiệm vụ học tập để đạt trình độ phổ cập giáo dục và có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục bắt buộc. Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc. Các cơ sở giáo dục có trách nhiệm tổ chức thực hiện phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ theo chức năng, nhiệm vụ.

Dự thảo Nghị định bổ sung cơ chế theo dõi, quản lý và hỗ trợ học sinh, chuyển trọng tâm từ việc “công nhận kết quả” sang “kiểm soát quá trình”. Điều này nhằm hạn chế tình trạng bỏ học giữa chừng hiện nay tại các địa phương.

Chuẩn hóa tiêu chuẩn công nhận

Dự thảo quy định cụ thể đối tượng, chương trình phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xoá mù chữ.

Đối với phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc, dự thảo Nghị định quy định rõ tiêu chuẩn công nhận đạt chuẩn đối với cá nhân, cấp xã và cấp tỉnh; làm rõ điều kiện công nhận và công nhận lại để bảo đảm duy trì bền vững kết quả đạt được; bảo đảm trẻ em trong độ tuổi được chuẩn bị đầy đủ về thể chất, tâm thế trước khi vào lớp 1 và hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc đến hết cấp trung học cơ sở.

Đối với xóa mù chữ, dự thảo quy định tiêu chuẩn công nhận cá nhân đạt chuẩn biết chữ, tiêu chuẩn công nhận đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 1, mức độ 2. Các tiêu chí được bổ sung, phân định rõ theo từng mức độ, hướng tới bảo đảm chất lượng thực tế, hạn chế hình thức và nguy cơ tái mù chữ.

Bảo đảm tất cả trẻ em trong độ tuổi được đến trường

Dự thảo Nghị định quy định rõ điều kiện về chương trình, đội ngũ, cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí thực hiện. Các tiêu chuẩn được quy định cụ thể hơn, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

Trong đó, mạng lưới trường, lớp được bố trí hợp lý theo địa bàn dân cư, đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ em, học sinh và học viên trong diện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ; bảo đảm thuận lợi cho việc đi học, học tập thường xuyên của người học.

Ưu tiên quy hoạch, sắp xếp mạng lưới trường, lớp tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo, khu công nghiệp, khu đô thị mới và các khu vực có biến động dân cư.

Một điểm mới đáng chú ý là dự thảo Nghị định bổ sung quy định về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cập nhật và theo dõi dữ liệu công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.

Cùng với đó, xác định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức triển khai, kiểm tra, công nhận kết quả trong phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.

Chính sách về phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ khi được hoàn thiện và ban hành sẽ góp phần bảo đảm tất cả trẻ em trong độ tuổi được đến trường, hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc; tạo cơ hội học tập cho người lớn chưa biết chữ hoặc tái mù chữ; thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền, tăng cường công bằng trong tiếp cận giáo dục và thực hiện hiệu quả mục tiêu xây dựng xã hội học tập.

Bài viết liên quan

Sở GD&ĐT TPHCM thông tin về lịch nghỉ Tết Dương lịch 2026 của học sinh

Sở GD&ĐT TPHCM thông tin về lịch nghỉ Tết Dương lịch 2026 của học sinh

calendar-icon 10/12/25 16:30
Theo Giáo dục thời đại - Việc nghỉ Tết Dương lịch của ngành giáo dục TPHCM phải thực hiện theo quy định chung của cả nước, không có ngoại lệ so với các ngành khác. Hoạt động dịp Xuân 2025 của học sinh TPHCM. Trước đó, sáng ngày 9/12, tại Hội nghị giao ban chuyên môn giáo dục phổ thông học kỳ I năm học 2025-2026, Sở GD&ĐT TPHCM cho biết, Tết Dương lịch (ngày 1/1/2026) rơi vào thứ 5, nên các trường có thể cho học sinh nghỉ thêm ngày thứ 6 (2/1), tạo nên chuỗi 4 ngày nghỉ (bao gồm thứ 7 và chủ nhật). Việc học bù ngày thứ sáu (2/1) được thực hiện theo hình thức trực tuyến hoặc bù vào thứ bảy của tuần kế tiếp để đảm bảo chương trình. Tuy nhiên, tối 9/12, ông Hồ Tấn Minh - Chánh Văn phòng Sở GD&ĐT TPHCM khẳng định, việc nghỉ Tết Dương lịch của ngành giáo dục thực hiện theo quy định chung của cả nước, không có ngoại lệ so với các ngành khác. Cụ thể, theo quy định của Bộ Luật Lao động, Tết Dương lịch (1/1) là ngày nghỉ lễ chính thức...
Bộ GD&ĐT tổng kết công tác pháp chế năm 2025

Bộ GD&ĐT tổng kết công tác pháp chế năm 2025

calendar-icon 25/12/25 09:21
Theo Giáo dục thời đại - Chiều 24/12, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc chủ trì Hội nghị công tác pháp chế, chuyên đề xây dựng pháp luật năm 2025. Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc phát biểu khai mạc hội nghị. Ảnh: Đình Tuệ. Khối lượng công việc lớn TS Mai Thị Anh - Vụ trưởng Vụ Pháp chế chia sẻ, năm 2025, Bộ GD&ĐT đã chủ động tham mưu, trình ban hành và ban hành theo thẩm quyền 77 văn bản gồm: 1 văn bản trình Bộ Chính trị; 8 Luật, Nghị quyết của Quốc hội; 15 Nghị định của Chính phủ, 17 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 25 Thông tư của Bộ trưởng và 11 Quyết định cá biệt của Bộ trưởng. Khối lượng văn bản lớn, đa dạng về loại hình và phạm vi điều chỉnh, bao trùm các lĩnh vực trọng tâm của giáo dục và đào tạo. Qua đó thể hiện rõ tinh thần chủ động, quyết liệt của Bộ GD&ĐT trong công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước và nhiệm vụ đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện...
Mở cánh cửa tiếng Việt cho học sinh vùng cao

Mở cánh cửa tiếng Việt cho học sinh vùng cao

calendar-icon 29/12/25 09:07
Theo Giáo dục thời đại - Tại vùng cao, biên giới Thanh Hóa, nhiều học sinh dân tộc Thái, Mông, Dao, Khơ Mú… gặp không ít khó khăn trong giao tiếp bằng tiếng Việt. Thầy giáo và học sinh lớp 1 ở điểm lẻ Tà Cóm - Trường Tiểu học Trung Lý 2. Để giúp học sinh lớp 1, lớp 2 làm quen nhanh và tự tin với ngôn ngữ chung, nhiều trường đã áp dụng các phương pháp giảng dạy sáng tạo thông qua trò chơi ngôn ngữ, kể chuyện và hoạt động trải nghiệm. Học tiếng Việt từ “chơi” đến “nói” Phần lớn học sinh lớp 1, lớp 2 ở các dân tộc Thái, Mông, Dao, Khơ Mú… sống trong môi trường chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ, ít hoặc hầu như chưa từng tiếp xúc với tiếng Việt trước khi đến trường. Điều này dẫn đến tình trạng “sốc ngôn ngữ”, khiến các em mất tự tin, khó tiếp thu bài và học tập kém trong những năm đầu. Tại các xã như Trung Lý, Sơn Thủy, Na Mèo, Pù Nhi, Nhi Sơn, Mường Lý, Tam Chung…, học sinh dân tộc thiểu số chiếm đa số. Việc...